Cách chọn men vi sinh tốt cho sức khỏe bạn cần biết

Men vi sinh bao kep the he 4 - kidlac

Men vi sinh là gì? Men vi sinh có lợi như thế nào đối với sức khỏe của con người? Có lẽ rất nhiều người đang chưa hiểu rõ bản chất của vấn đề, thậm chí đôi khi còn nhầm lẫn giữa men vi sinh và men tiêu hóa !? Trong bài viết này, Oriphamed sẽ giải thích về khái niệm men vi sinh và cách chọn men vi sinh tốt cho sức khỏe, hãy cùng tham khảo nhé.

Men vi sinh là gì?

Men vi sinh (Probiotic) là thuật ngữ để chỉ một nhóm vi sinh vật có lợi cho cơ thể, giúp giải quyết các trường hợp rối loạn tiêu hóa do mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, giúp tăng sức đề kháng, giảm dị ứng thực phẩm, tăng dung nạp lactose, giảm cholesterol, ngăn ngừa yếu tố gây bệnh nội và ngoại sinh, đồng thời được sử dụng như liệu pháp phòng ngừa nhiều bệnh tật kể cả bệnh ung thư ruột… Probiotic ngày càng được sử dụng rộng rãi, dưới nhiều dạng khác nhau như thực phẩm chức năng, dược phẩm, thực phẩm sử dụng hàng ngày, sữa dùng cho trẻ em, nước ép trái cây.

Men vi sinh bao kep the he 4 - kidlac

Tổ chức Lương nông Liên hiệp quốc và Tổ Y tế Thế giới (FAO/WHO) cũng đã nêu rõ: “Probiotic là những vi sinh vật sống mà khi sử dụng với lượng phù hợp sẽ đem lại ích lợi cho sức khỏe của sinh vật chủ”. Hiện nay khái niệm probiotic đã được mở rộng ra cho các loại probiotic chết đông khô. Tuy vi sinh vật probiotic đã chết nhưng các sản phẩm chuyển hóa trong tế bào vẫn giữ được nguyên vẹn do vậy vẫn có tác động điều trị. Đây cũng là một vấn đề mới cho khái niện Posbiotic, một ý nghĩa khác được nghiên cứu tác dụng từ các vi sinh.

Tham khảo thêm: Men vi sinh bao kép là gì?

Hiểu đúng về hệ vi sinh của con người

Chúng ta đang và luôn mang trên mình hàng kí lô vi sinh vật trong suốt cuộc đời mà chúng ta chưa bao giờ nhìn thấy chúng.  Đó là các vi sinh vật trú đóng, bao gồm trên bề mặt cơ thể là da, lông, móng, tóc, hốc mắt, mũi, cơ quan sinh dục, tuyến vú, và nhiều nhất là ống tiêu hoá chúng ta.  Chỉ xét trên ống tiêu hoá, chúng định cư ở đó số lượng hàng trăm ngàn tỷ (1014) vi sinh vật với khoảng 1000 loài, trên mỗi loài với khoản 2000 gen. Vậy tạo ra ước tính khoảng 2.000.000 gen, gấp 100 lần so với khoảng 20.000 gen người. Hoá ra chúng ta chỉ có 10% là “Gen người”, 90 % còn lại của cơ thể chúng ta là tập hợp các “Gen vi sinh” hay gọi là metagenome của hệ vi sinh vật.

Khái niệm mới Metagenome là tập hợp bộ Gen của hệ vi sinh vật chính là “bộ gen thứ hai” của con người có nghĩa to lớn cho cuộc cách mạng sinh học tương lai. Chính từ các vi sinh vật cộng sinh thân thiện nhỏ bé này đóng góp vai trò quyết định đối với sức khỏe của chúng ta. Các vi sinh vật này là những cá thể sống, chúng có vòng đời thường rất ngắn, cơ chế tự sản sinh và đào thải liên tục. Trong đó, các chuyển hoá biến dưỡng được quy định bởi bộ gen của chúng, bởi vậy chúng “đóng góp” vô vàn tác động lên con người từ sản phẩm tạo ra của chúng.  Các nhà khoa học đã mở ra chân trời mới trong vài thập niên gần đây về hệ vi sinh dưới góc độ gen và di truyền, đã mở ra cánh cửa để bước vào thế giới đáng kinh ngạc của hệ thống vi sinh với những chất chuyển hóa thật kỳ diệu như hàng ngàn enzyme, chất kháng khuẩn, chất kháng viêm, chất chống ô xi hóa

Bộ gen của con người giống nhau đến 99,9% nói chung, không giải thích rõ sự khác biệt kiểu hình và sức khỏe rất khác nhau giữa con người. Trong khi đó, hệ thống vi sinh sống trong mỗi cơ thể con người có thể là duy nhất với mỗi cá nhân, như chỉ dấu vân tay, và rất khác giữa người này và người kia.

Hệ vi sinh mỗi cá nhân có tính đặc trưng, như chỉ dấu vân tay, dược quy định cá thể từ nguồn vi sinh nhận được và toàn bộ quá trình hình thành và điều kiện phát triển, có tính ảnh hưởng bởi môi trường, điều kiện ăn uống và chăm sóc trẻ trong 2 năm đầu đời. Từ đó, hệ vi sinh ổn định và xu hướng xấu đi khi về già.

Mặt dù có tính ổn định, tuy nhiên rất nhiều áp lực, từ sự mất cân bằng của chế độ ăn, từ nhiễm khuẩn, hóa chất, thuốc men, từ áp lự căng thằng và nhiều nguyên nhân khác thường trực gây tổn hại đến sự cân bằng cần có trên vi khuẩn có lợi và gia tăng hại khuẩn. Sự cân bằng tối thiểu cần gìn giữ đó là trên 85% lợi khuẩn và nhỏ hơn 15% hại khuẩn và vi khuẩn trung gian. Để giữ ổn định hay tái lập sự mất cân bằng này dùng những lợi khuẩn cách phải làm hàng ngày cho hệ tiêu hóa khỏe mạnh.

Chúng tôi là ai?

Vì một hệ tiêu hóa khỏe mạnh, chúng tôi – Oriphamed coi trọng và tập trung chăm “Bộ gen thứ hai” tạo nên sức khoẻ, sắc đẹp và tuổi thọ bằng cách chọn lọc, khám phá những loại vi sinh tốt nhất. Những vi sinh tốt, các nhà khoa học tìm kiếm trên chính những vi khuẩn phân lập có nguồn gốc từ người, và dược nghiên cứu tính hiệu quả, an toàn, và thử nghiệm lầm sàng để chứng thực. Những vi sinh chọn lựa này dược thừa nhận, gói là “Probiotic” và sản phẩm thực phẩm, thuốc, hay thực phẩm chức năng mà chúng ta hay gọi là “Men Vi Sinh”.

Chúng tôi, Oriphamed từ 2009 đến nay đã hợp tác với Cell Biotech – công ty ra đời chuyên nghiên cứu tạo ra 1 dòng sản phẫm duy nhất từ men vi sinh. Cell Biotech ra đời từ 1995, nơi hội tụ hơn 300 nhà nghiên cứu vi sinh, miễn dịch, tế bào và trị liệu ung thư để tạo ra những công thức hoàn hảo chăm sóc sức khỏe cho mọi người, đã trở thành nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới về lĩnh vự men vi sinh. Đó chính là các sản phẩm men vi sinh bao kép thế hệ 4 – công nghệ bản quyền thế giới và cuộc cách mạng công nghệ vi sinh, giúp bảo vệ những lợi khuẩn vượt qua dạ dày trên 90%, bảo đảm gấp ít nhất hơn 100 lần so với các sản phẩm không bao khác. Có ý nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn, điều này đã mở ra nhiều nhận thức mới mối liên quan sức khoẻ và bệnh tật. Nghiên cứu “gen thứ 2” đã giải mã nhiều căn nguyên bệnh tật, cụ thể:

  1. Trực tiếp là các bệnh đường tiêu hoá: viêm dạ dày, trào ngược thực quản, táo bón, tiêu chảy, viêm ruột, rối loạn tiêu hóa, hội chứng ruột kích thích, bất dung nạp lactose, viêm da cơ địa, sơ sinh chàm lác sữa, ói ọc và nôn trớ sơ sinh, hăm tã sơ sinh, kém hấp thu và nhẹ cân thấp còi suy dinh dưỡng.
  2. Là nguyên nhân rối loạn chuyển hoá hấp thu gây nhiều bệnh không lây mỗinhiễm khác nhau: tiểu đường, tim mạch, mỡ máu, gan nhiễm mỡ, rối loạn nội tiết, bệnh cơ quan gan thận, xương khớp, uric máu hay thừa cân béo phì.
  3. Rối loạn miễn dịch và gây tự miễn: hen suyễn, viêm da cơ địa, chàm, vảy nến, lupus hệ thống, thấp khớp.
  4. Suy giảm miễn dịch và chức năng thải độc: các bệnh với cấp tính hay là can nguyên mãn tính viêm nhiễm do lây hay không lây và kể cả ung thư.
  5. Rối loạn chức năng trục não ruột: ngoài các liên hệ chức năng trên ruột như điều hòa co thắt, chức năng tiết enzyme và dịch tiêu hóa, còn là căn nguyên của tâm trạng, sức khỏe tinh thần, rối loạn lo âu, rối loạn giấc ngủ, hay bệnh thần kinh như tự kỷ, trầm cảm và stress oxidantive.

Cách lựa chọn men vi sinh tốt cho sức khỏe

Ngày càng có nhiều chủng vi sinh vật mới được phát hiện để ứng dụng làm probiotic, theo FAO/WHO khi chọn và phát triển vi sinh vật probiotic trong sản phẩm, để thực sự có hiệu quả cao trong chữa trị phải tuân thủ những yêu cầu, đặc tính khắt khe sau:

1/. Chủng vi sinh vật phải có nguồn gốc từ con người; có khả năng bám chặt vào niêm mạc ruột và ngăn không cho vi khuẩn gây bệnh bám.

2/. Chống chịu được tác động dịch dạ dày và acid mật để đến ruột. Tại ruột, probiotic phải phóng thích tốt và sản sinh nhanh chóng để phát huy tối đa tác dụng cân bằng hệ vi sinh vật.

3/. Có khả năng thật sự kháng được vi khuẩn gây bệnh.

4/. Được công nhận có tác động tích cực trong chữa trị và an toàn khi sử dụng (Generally Recognized as Safe-GRAS). Những tiêu chuẩn an toàn về vi sinh vật probiotic gần đây được đề cập rất nhiều và nghiên cứu.

Hiện nay một số sản phẩm trên thị trường có dùng các chủng vi sinh vật không đáp ứng các tiêu chí trên, thậm chí có thể có yếu tố gây hại cho người sử dụng. Như vậy, để lựa chọn men vi sinh tốt cho sức khỏe, đầu tiên và quan trọng nhất là phải hiểu rõ về loại sản phẩm, từ đó mới đảm bảo được tính hiệu quả tốt nhất khi sử dụng.

> Xem các sản phẩm Men vi sinh bao kép thế hệ 4

Thông tin tham khảo thêm

Nhóm vi khuẩn lactic và các vi khuẩn hội sinh không mang yếu tố gây bệnh như: Lactobacillus, Bifidobacterium, Enterococcus, Streptococcus… có nguồn gốc từ người, được sử dụng nhiều trong sản phẩm probiotic. Lactobacillus và Bifidobacterium là những vi khuẩn Gram dương, tạo acid lactic, là phần chính của hệ vi khuẩn đường ruột ở người và động vật khỏe mạnh.

Lactobacillus spp

Là vi khuẩn Gram dương, không sinh bào tử, có dạng hình que hay hình cầu. Chúng lên men được trong điều kiện hiếu khí hay kị khí. Lactobacillus spp. được tìm thấy trong màng nhầy ruột của người và động vật, chất thải và thực phẩm lên men, chúng có vai trò giúp tiêu hóa và hấp thụ protein trong ruột. Với những người ăn nhiều thịt, ruột non là nơi quan trọng nhất của hệ tiêu hóa để tiêu hóa. Thông thường, Lactobacillus spp. sống nhiều ở ruột non do vậy đóng vai trò quan trọng trong hấp thu. Lactobacillus acidophilus hiện diện nhiều nhất trong ruột người khỏe mạnh, ngòai ra còn tìm thấy chúng trong âm đạo phụ nữ, có khả năng dung nạp trong môi trường acid như ở dạ dày tốt nhất. Lactobacillus ức chế các vi khuẩn có hại khác như Staphylococcus aureus, E. coli, nấm Candida albicans. Lactobacillus cũng giảm lượng cholesterol, giúp dung nạp lactose và có khả năng chống nhiều bệnh viêm nhiễm và ung thư.

Lactobacillus gần đây nhiều nghiên cứu cho thấy có khả năng kích thích miễn dịch, và giúp chống các dị ứng bất thường, tiết ra nhiều kháng sinh tự nhiên (bacteriocin), tạo ra nhiều enzyme có khả năng chống oxy hóa, khả năng tổng hợp được acid amin L-Lysin, thải lọai nitrate tạo ra bởi vi khuẩn thối rửa nên là loại có khả năng kháng bệnh mạnh mẽ. Lactobacillus tạo ra những chất kháng khuẩn có trọng lượng phân tử nhỏ, có thể là những chuỗi acid béo mạch ngắn, bacteriocin có khả năng ức chế các vi khuẩn: Clostridium, Bacteroides, chống lại Enterobacteriaceae, Pseudomonas, Staphylocuccus, Streptococus, Salmonella typhimurium, vi khuẩn Helicobacter pylori…

Bifidobacterium spp

Là một thành phần chính của vi sinh vật đường ruột bình thường, có mặt chủ yếu ở ruột già, trong phân một vài ngày sau khi sinh và tăng số lượng sau đó. Bifidobacteria không di động, không bào tử, Gram dương, hình que với rất nhiều dạng, phần lớn vi sinh này là kị khí bắt buộc. Bifidobacterium spp. giúp tiêu hóa, điều hìa nhu động ruột,  giúp ức chế và đào thải độc tố, ức chế các enzyme gây ung thư, tạo enzyme tăng chuyển hóa đường, chuyển hóa mỡ giúp giảm cholesterol trong máu, cân bằng đường huyết. Nhiều như Bididobacterium spp., nhiều nhất ở ruột già, có khả năng sử dụng các hydratcarbon khác nhau, sinh sản tốt trong sữa, thích ứng tốt trong nhiều môi trường khác nhau và có khả năng hấp thu cholesterol, ức chế Salmonella, Shigella, E. coli, Bacteroides, Clostridium, Rota virus và các virus khác. Bifidobacterium trong ruột giúp hấp thu vitamin D và tổng hợp vitamin K, vitamin B. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy chúng giúp hấp thu các khóang chất như sắt, calcium, magnesium và kẽm.

Enterococcus và Streptococcus spp

Những vi sinh vật này có khả năng phục hồi lại sự cân bằng của hệ vi khuẩn ruột vì sinh sản nhanh và tiết ra nhiều acid hữu cơ ức chế mạnh vi khuẩn gây bệnh,virus, giúp tăng cường việc sử dụng lactose trên những người không dung nạp.

Các thế hệ của men vi sinh

Do vậy có thể nói sự phối hợp các vi sinh vật trong sản phẩm probiotic là điều cần thiết. Mỗi nhóm vi sinh vật đều có ưu điểm riêng và đều ảnh hưởng đến môi trường vi sinh vật ở ruột. Để đạt được những yêu cầu theo khuyến cáo của FAO/WHO là vấn đề không đơn giản, chủng vi sinh vật probiotic phải được chọn lọc rất kỹ càng. Bên cạnh đó, việc bảo vệ các vi sinh vật probiotic từ quá trình sản xuất, trong thời gian lưu hành sản phẩm và khi sử dụng phải sống sót khi đến ruột tỉ lệ cao để phát huy tác dụng là vấn đề thật sự quan trọng nhưng còn bị xem nhẹ. Quá trình sản xuất, công nghệ bảo vệ bằng cách bao (coated) phải trải qua thời gian dài mới hoàn thiện dần, cụ thể như sau:

– Thế hệ đầu tiên, vẫn còn được sử dụng nhiều hiện nay vì giá thành rẻ, là dạng vi sinh vật probiotic sử dụng tự nhiên, không bao (Non- coated). Vi sinh vật không bao sống tốt trong môi trường nuôi cấy và trong thực phẩm lên men (như kim chi, sữa chua, phomat…) nhưng khó sống trong các dạng bào chế thuốc khi lưu hành với thời gian. Thêm vào đó, nhược điểm lớn nhất khi sử dụng là gần như không sống sót khi đi qua dạ dày và dịch mật.

Để hạn chế nhược điểm này, một số nhà sản xuất sử dụng vi sinh vật ở dạng bào tử. Các vi sinh vật lọai này nuôi cấy, sản xuất dễ dàng. Hơn nữa việc bảo quản trong các dạng bào chế thuốc khi lưu hành  có thuận lợi. Nhược điểm là khi đến ruột, vi sinh vật từ dạng bào tử muốn trở về dạng sinh dưỡng bình thường để phát huy tác dụng phải trải qua qua trình phá vỡ lớp vỏ bọc bào tử mất nhiều thời gian nên tác dụng chậm, hạn chế khả năng tương tranh nhanh chóng với vi sinh vật gây bệnh,… đáp ứng thấp các tiêu chí nêu trên. Cần lưu ý thêm các vi sinh vật này cũng không kháng cự tốt khi đi qua dạ dày và dịch mật.

Ngoài ra, một số nhà sản xuất còn sử dụng vi sinh vật probiotic chết đông khô (Lacteol) vì vi sinh vật tuy chết nhưng các sản phẩm chuyển hóa thì còn do vậy phần nào cũng có tác dụng chữa trị tuy nhiên không thể khai thác hết vai trò của vi sinh vật probiotic sống.

– Thế hệ 2 là dạng bao tan trong ruột (Enteric-coated) đưa vào dưới dạng viên nén hoặc viên nang với lớp bao bên ngoài tan trong ruột. Đây là ý tưởng bắt đầu của việc cần thiết bảo vệ vi sinh vật probiotic khi đi qua dạ dày và dịch mật nhưng không ứng dụng nhiều do vẫn còn nhiều nhược điểm như thời gian tan rã để phóng thích vi sinh vật probiotic. Thế hệ bào chế này chưa có sản phẩm tại Việt Nam, chỉ sử dụng nhiều ở Mỹ, Canada và một số nước khác.

– Thế hệ thứ 3 là dạng bao vi nang (Micro-Encapsulated)  hòan thiện ý tưởng của thế hệ thứ 2 nhưng chưa khắt phục được nhiều nhược điểm của thế hệ này, có hiện diện tại Việt Nam.

– Thế hệ thứ 4 là công nghệ tạo lớp bao kép (Dual-coated) Men vi sinh bao kép thé hệ 4 là thế hệ mới nhất. Lớp bên trong là protein và bên ngoài là polysaccharide với ưu điểm vượt trội, đạt được những yêu cầu khắt khe khi sử dụng: vi sinh vật probiotic sống cao trong sản xuất và bảo quản, chống chịu được acid khi qua dạ dày cũng như muối mật. Lớp bao kép này rất ”thông minh”: bảo vệ tốt vi sinh vật probiotitc trong các điều kiện bất lợi trên nhưng đồng thời phóng thích nhanh chóng tại ruột để phát huy tác dụng trong thời gian nhanh nhất. Mới đây, tại Việt nam đã có sản phẩm sử dụng công nghệ DuolacTM này (Lacclean Gold cho người lớn và Kidlac cho trẻ em). Ngoài ra các vi sinh vật probiotic sử dụng trong sản phẩm đều tuân thủ yêu cầu nghiêm ngặt của FAO/WHO.

Kỹ thuật bào chế hiện đại: phương pháp bao màng kép không những tạo ra các dạng bào chế mới giải phóng hoạt chất tại đích (ruột) mà còn tạo ra các sản phẩm bào chế chứa vi khuẩn probiotic đạt được yêu cầu điều trị mong muốn. Sản phẩm giúp phòng ngừa và chữa trị hữu hiệu hơn những bệnh lý mà nguyên nhân chính là do rối loạn vi sinh vật đường ruột; đồng thời tăng cường miễn dịch giúp phòng ngừa bệnh tật, tăng cường sức khỏe và giảm nguy cơ ung thư ruột.